Kinh tế và phát triển

Từ đầu thập niên 90 nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang giai đoạn quá độ từ nền kinh tế kế hoạch sang „nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chính sách Đổi mới này đã mang lại nhiều thành tựu kinh tế và xã hội đáng chú ý: phát huy sáng kiến cá nhân, tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định, xuất khẩu nhảy vọt và giảm đói nghèo.

 Ảnh hưởng bởi những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và giá cả bất ổn, chính sách kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây phải đối mặt với những thách thức mới: Nếu như trong năm 2008 chính phủ chủ yếu quan tâm đến vấn đề lạm phát tràn lan (23%), cầu nhập khẩu nguyên liệu quá cao cũng như giá bất động sản quá cao so với giá trị thực, thì những vấn đề lớn của năm 2009 là sự suy giảm trong đầu tư trực tiếp, nhu cầu xuất khẩu và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao (4,9%). Ít nhất hai yếu tố về đầu tư và xuất khẩu kể trên chỉ rõ sự phụ thuộc vào nước ngoài của Việt Nam: Khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2009 là 14 tỷ Euro, giảm 70% so với năm 2008 (51,2 tỷ Euro). Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 đạt 41,5 tỷ Euro, giảm 9,7% so với năm trước đó.

Trong năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2009 Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng GDP hơn 5%, dự đoán tăng trưởng GDP trong hai năm tiếp theo là hơn 6%. Cả kim ngạch xuất khẩu dự kiến cũng sẽ đạt được những phục hồi bền vững. Ngay tháng 12 năm 2009 kim ngạch xuất khẩu đã tăng 12%, trong tháng 1 năm 2010 thậm chí gần 32%.

Sự phát triển kinh tế năng động trong hai thập kỷ vừa qua cũng phản ánh qua thu nhập bình quân đầu người: Năm 1990 Việt nam là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người là 98USD; năm 2009 theo Ngân hàng thế giới Việt Nam đã đứng rất gần ngưỡng nước có thu nhập trung bình (thu nhập bình quân đầu người hơn 1.000 USD/ năm).

Những mục tiêu kinh tế đặt ra cho giai đoạn 2011-2015 hướng tới củng cố hệ thống giáo dục và thị trường lao động nhằm tiếp tục nâng cao mức sống của người dân đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi. Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng từ 7-8% cho giai đoạn này.

Doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng một vai trò thiết yếu trong nền kinh tế: mặc dù có ít nhất là một phần tư trong số các doanh nghiệp này làm ăn thua lỗ nhưng tựu chung khối doanh nghiệp nhà nước vẫn tạo ra 40% sản lượng công nghiệp và 35% sản lượng xuất khẩu. Hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp nhà nước (trong tổng số 6.000 doanh nghiệp) đã được tư nhân hóa. Tuy nhiên, những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế nhạy cảm như quốc phòng, xuất bản, đường sắt v.v. vẫn sẽ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước.

Quan hệ kinh tế với Áo

Năm 1998 sau khi đại diện Bộ Tài chính Liên bang Áo và đại diện Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam trực tiếp làm việc, Áo tuyên bố sẵn sàng cung cấp cho Việt Nam các khoản vay („soft loans“) nhằm thực hiện các dự án kinh tế tại Việt Nam có sự tham gia của các công ty của Áo. Yếu tố ưu đãi trong khuôn khổ các khoản vay này được xác định bởi tỷ lệ lãi suất thấp hoăc hoàn toàn không tính lãi suất, thời gian cho vay kéo dài, và 15% giá trị dự án sử dụng các loại vốn „mixed credit“ là tài trợ không hoàn lại (tối đa là 1,5 triệu Euro). Tỷ lệ tài trợ không hoàn lại của các khoản vốn này là 35% và theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD đây là khoản hỗ trợ phát triểu của Áo cho Việt Nam (Official Development Assistance, ODA). Cũng theo tiêu chuẩn của OECD, các dự án sử dụng vốn vay ưu đãi có thể được thực hiện trong các lĩnh vực kinh tế đặc biệt quan trọng đối với phát triển xã hội và kinh tế vĩ mô của đất nước nhận vay vốn như: giao thông, cơ sở hạ tầng, y tế/sức khỏe, kỹ thuật chữa cháy, giáo dục và công nghệ môi trường.

Xuất khẩu của Việt Nam sang Áo trong năm 2008 đã đạt kỷ lục là 261,2 triệu Euro tuy nhiên năm 2009 giảm 19,5% xuống còn 210,5 triệu Euro.

Áo hỗ trợ Việt Nam các khoản vay ưu đãi (Soft Loans)

Năm 1998 sau khi đại diện Bộ Tài chính Liên bang Áo và đại diện Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam trực tiếp làm việc, Áo tuyên bố sẵn sàng cung cấp cho Việt Nam các khoản vay („soft loans“) nhằm thực hiện các dự án kinh tế tại Việt Nam có sự tham gia của các công ty của Áo. Yếu tố ưu đãi trong khuôn khổ các khoản vay này được xác định bởi tỷ lệ lãi suất thấp hoăc hoàn toàn không tính lãi suất, thời gian cho vay kéo dài, và 15% giá trị dự án sử dụng các loại vốn „mixed credit“ là tài trợ không hoàn lại (tối đa là 1,5 triệu Euro). Tỷ lệ tài trợ không hoàn lại của các khoản vốn này là 35% và theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD đây là khoản hỗ trợ phát triểu của Áo cho Việt Nam (Official Development Assistance, ODA). Cũng theo tiêu chuẩn của OECD, các dự án sử dụng vốn vay ưu đãi có thể được thực hiện trong các lĩnh vực kinh tế đặc biệt quan trọng đối với phát triển xã hội và kinh tế vĩ mô của đất nước nhận vay vốn như: giao thông, cơ sở hạ tầng, y tế/sức khỏe, kỹ thuật chữa cháy, giáo dục và công nghệ môi trường.

Trong các lĩnh này từ năm 2002 một loạt công ty của Áo cùng với các đối tác Việt Nam đã thực hiện thành công 11 dự án sử dụng vốn vay ưu đãi với tổng vốn vay khoảng 130 triệu Euro. Một số lượng lớn các dự án khác hiện đang trong giai đoạn triển khai hoặc chuẩn bị. Và như vậy Áo đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam.

Cơ hội xuất khẩu

Chính phủ Việt Nam hiện đang nỗ lực nâng cấp cơ sở hạ tầng để thu hút hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam. Trong đó phải kể đến kế hoạch xây dựng hàng loạt các nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất hoá dầu và phát triển đô thị. Trong lĩnh vực đường sắt, ngoài các kế hoạch xây dựng tàu điện ngầm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, dự kiến trong một vài năm tới các tuyến đường sắt và mạng lưới đường bộ sẽ được mở rộng hơn nữa. Do nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng nên hàng loạt các nhà máy điện đang nằm trong kế hoạch xây dựng. Cơ sở hạ tầng viễn thông, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh công cộng, và cơ sở hạ tầng y tế thường xuyên được nâng cấp. Do đó cơ hội hợp tác kinh doanh dành cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, y tế và viễn thông của Áo là rất lớn. Ngoài ra, phía Việt Nam còn đang rất quan tâm đến các dự án của Áo trong lĩnh vực đào tạo.

Cả trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và khí hậu, những nhà sản xuất thiết bị Áo cũng tìm thấy ở Việt Nam những cơ hội hợp tác khá tốt. Hơn nữa trong ngành năng lượng, Việt Nam còn cho thấy tiềm năng mở rộng rất lớn đặc biệt là về năng lượng thuỷ điện, mặt khác Việt Nam còn có nhu cầu tăng hiệu quả sử dụng năng lượng.

Địa chỉ liên hệ trong lĩnh vực kinh tế song phương

Tổ công tác hỗn hợp Áo-Việt Nam bàn về các chủ đề Kinh tế và Thương Mại đã nhóm họp lần thứ 7 từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3 năm 2010 tại Hà Nội. Đứng đầu đoàn đại biểu Áo là Thứ trưởng Josef Mayer, phụ trách chính sách kinh tế đối ngoại của Bộ Kinh tế, Gia đình và Thanh niên Liên bang Áo. Đứng đầu đoàn Việt Nam là thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương. Cùng đi với đoàn Áo còn có đại diện của 16 doanh nghiệp, họ là những doanh nghiệp đã và đang hoạt động tại thị trường Việt Nam hoặc đang rất quan tâm đến việc thâm nhập thị trường này. Đoàn đại diện ngoại giao và đại diện doanh nghiệp Áo cũng được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc và Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyện Quốc Triệu tiếp đón. Các Bộ trưởng đánh giá cao những đóng góp kinh tế của Áo tại Việt Nam và khẳng định sẽ ủng hộ những đóng góp này trong tương lai.

Để có thêm thông tin chi tiết hơn về cơ hội cho các doanh nghiệp Áo tại Việt Nam xin liên hệ:
Thương vụ Áo tại Bangkok, phụ trách Thái Lan, Việt Nam, Myanmar, Campuchia và Lào. Tại Việt Nam, Thương vụ Áo có hai văn phòng Marketing đặt tại Hà Nội và TP HCM.

Thương vụ Áo tại Bangkok:
Austrian Embassy - Commercial Section
Chartered Square Bldg., 14/Fl., # 1403 152
North Sathorn Road
Bangkok 10500 / Thailand
ĐT: +66 2 268 22 22
Fax: +66 2 200 02 22
bangkok@wko.at