Chính trị

Chính sách đối nội

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang một hệ thống chính trị định hướng kinh tế thị trường, mà trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền và không có phong trào đối lập có tổ chức. Các Hiệp hội và Công đoàn trực thuộc “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”. Bộ chính trị bao gồm 15 ủy viên là cơ quan quyết định toàn bộ các chính sách và đường lối chính trị của Việt Nam. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh là người lãnh đạo cơ quan này từ tháng 4 năm 2001. Các công việc liên quan đến Đảng do Ban bí thư gồm 9 ủy viên đảm nhiệm. Với 150 thành viên, Ban chấp hành Trung ương Đảng - cơ quan cao nhất của Đảng - họp hai kỳ một năm. Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 “Chính sách Đổi mới” đã được thông qua, tạo tiền đề cho các cải cách kinh tế cơ bản sau này.

Các cơ quan nhà nước quan trọng bao gồm: Quốc hội, cơ quan lập pháp duy nhất, giám sát tối cao các hoạt động của nhà nước. Quốc hội Việt Nam họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Lần bầu cử quốc hội gần đây nhất diễn ra trong tháng 5 năm 2007, bầu được 493 đại biểu, trong đó có khoảng 9% đại biểu là người ngoài Đảng. Số đại biểu là người dân tộc thiểu số chiếm 17%, đại biểu nữ chiếm 26%, đại biểu có tôn giáo chiếm 3% và đại biểu thuộc khối doanh nghiệp chiếm 5%. Trong một vài năm trở lại đây Quốc hội đã có nhiều chuyển biến rõ ràng và không chỉ là cơ quan “làm luật” đơn thuần như trước đây. Nhiều biện pháp đã được tiến hành nhằm mở rộng vai trò của Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp và giám sát (trong đó phải kể đến việc đưa vào áp dụng hình thức bỏ phiếu tín nhiệm).

Chủ tịch nước hiện nay (từ năm 2016) là Ông Trần Đại Quang. Chủ tịch nước đồng thời là người thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân. Người đứng đầu Chính phủ hiện nay (từ năm 2016) là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Ngoài ra trong Nội các còn có 5 Phó thủ tướng và 22 Bộ trưởng chuyên trách. Bên cạnh chức vụ Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, “Thủ tướng” là chức vụ quan trọng nhất trong bộ máy lãnh đạo của Việt Nam.

Bản Hiến pháp mới được ban hành năm 1992 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội, đồng thời phân biệt một cách rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ giữa Đảng và Nhà nước. Đảng Cộng sản Việt Nam cam kết hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong thực tế, Đảng cộng sản vẫn kiểm soát các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bốn ủy viên của Bộ Chính trị nắm giữ đồng thời các chức vụ quan trọng trong Chính phủ. Đa số các đại biểu Quốc hội là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong một vài năm trở lại đây người ta có thể nhận thấy xu hướng phân định rạch ròi trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước.

Sự tham gia của người dân vào quá trình chính trị được thể hiện qua việc bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành, quận huyện và phường xã trong khuôn khổ các tổ chức quần chúng. Quân đội – vì lí do lịch sử đóng vai trò là nhân tố quan trọng trong quyền lực nhà nước – được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và có đại diện trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng.

Chính sách đối ngoại

Các mối quan hệ quốc tế và khu vực được thay đổi một cách cơ bản từ cuối cuộc chiến tranh Lạnh đã làm biến chuyển chính sách đối ngoại của Việt Nam.Sau sự sụp đổ của Đảng Cộng sản tại Liên bang Xô Viết Việt Nam bắt đầu mở cửa trong chính sách đối ngoại của mình.Tiền đề để Việt Nam vượt qua sự cô lập là rút quân khỏi Cam-pu-chia vào cuối năm 1989 và tham gia vào Hiệp định Paris về Cam-pu-chia trong tháng 10 năm 1991.

Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ chính trị với các nước Đông Nam Á và Đông Á, đồng thời nỗ lực thành công trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế, đánh dấu bằng việc gia nhập khối ASEAN năm 1995. Việt Nam đóng một vai trò ngày càng tích cực hơn trong khối này và là nước phê chuẩn sớm Hiến chương ASEAN. Nhật Bản là quốc gia viện trợ phát triển lớn nhất và quan trọng nhất cho Việt Nam. Trung Quốc, Liên minh Châu Âu, Mỹ và Hàn Quốc cũng đóng một vai trò quan trọng với tư cách là các đối tác thương mại và đầu tư.Hiệp định hợp tác và đối tác với Liên minh Châu Âu hiện đang trong quá trình đàm phán.

Năm 2007 Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO. Năm 2008-2009 Việt Nam giữ chức Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và ủng hộ nỗ lực cải tổ Liên hợp quốc, bao gồm cả việc nâng số thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, về cơ bản Việt Nam cũng đồng thời phản đối mọi hành vi trừng phạt.

Quan hệ với Trung Quốc đã được bình thường hóa từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1991. Hiện nay Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Hai nước đã ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt – Trung vào cuối năm 1999, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vào tháng 12 năm 2000 và Hiệp định Nghề cá Việt Nam – Trung Quốc năm 2004. Tuy nhiên tranh chấp về chủ quyền quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở vùng biển phía Nam của Trung Quốc vẫn chưa được giải quyết. Hai bên thống nhất giải quyết vấn đề này bằng hòa bình.

Chuyến thăm Việt Nam rất được dư luận chú ý của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trong tháng 11 năm 2006 đã mở đầu cho việc trao đổi các chuyến thăm cấp cao giữa hai nhà nước, giúp tăng cường quan hệ song phương Việt Trung. Năm 2008 Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã sang thăm Trung Quốc.

Một sự đột phá trong chính sách mở cửa của Việt Nam chính là việc thiết lập quan hệ ngoại giao với kẻ thù trước đây của mình - Mỹ - trong năm 1995. Việc ký kết hiệp định thương mại song phương trong tháng 7 năm 2000 và chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Clinton trong tháng 11 năm 2000 đã đánh dấu việc bình thường hóa hoàn toàn trong quan hệ Việt Mỹ. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, quan hệ giữa hai nước đã đạt được những thành tựu rất đáng ngạc nhiên. Kể từ khi ký kết Hiệp định thương mại vào tháng 12 năm 2001 Mỹ đã vươn lên trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Hiện hai bên cũng đã bắt đầu hợp tác trong lĩnh vực quân sự. Chuyến thăm Mỹ trong tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải đã một lần nữa khẳng định sự bình thường hóa quan hệ hoàn toàn với kẻ thù không đội trời chung trước đây. Nhân Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương Tổng thống Bush đã có chuyến công du sang Việt Nam trong tháng 11 năm 2006. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lần lượt sang thăm chính thức Washington trong tháng 6 năm 2007 và tháng 6 năm 2008.

Mối quan hệ Việt Nga đã được làm sống lại sau chuyến thăm chính thức của Cựu Tổng thống Nga Putin trong năm 2001. Trong chuyến thăm này hai bên đã giải quyết ổn thỏa vấn đề nợ cũ của phía Việt Nam. Sau khi Hiệp định song phương về việc sử dụng cảng Cam Ranh như một cơ sở hậu cần kỹ thuật chính của không - hải quân Nga ở Đông Nam Á không được gia hạn, Nga đã rút toàn bộ các đơn vị quân đội khỏi Cam Ranh vào năm 2002, sau đó quan hệ giữa hai nước đã trở nên lạnh giá hơn. Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng thống Putin (tháng 11 năm 2006), chuyến thăm Mát-xcơ-va của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng 9 năm 2007) và chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 10 năm 2008) đã hâm nóng hơn quan hệ hai nước. Tuy nhiên, trao đổi thương mại song phương còn kém tương xứng hơn rất nhiều so với quan hệ chính trị của hai bên.

Mặc dù 10% dân số Việt Nam theo Đạo Thiên chúa và quan hệ song phương trong một vài năm trở lại đây đã ngày càng được bình thường hóa nhưng cho đến nay Việt Nam và Va-ti-căng vẫn chưa thiết lập quan hệ chính thức. Năm 2007, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đầu tiên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã sang thăm Giáo hoàng của Va-ti-căng. Thứ trưởng ngoại giao Tòa thánh Đức ông Pietro Parolin đã hai lần sang thăm Việt Nam vào năm 2008 và 2009. Tuy nhiên, từ cuối năm 2008 tình hình quan hệ hai bên đã trở nên khó khăn hơn do xảy ra một số tranh chấp cá nhân liên quan đến quyền sử dụng đất của nhà thờ thiên chúa giáo ở Hà Nội.

Trong lĩnh vực giải trừ quân bị và kiểm soát vũ khí Việt Nam đang nỗ lực cởi mở và hợp tác thực hiện. Điều nay được phía Việt Nam thể hiện qua việc ký kết Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân hoàn toàn (Comprehensive Test-Ban Treaty, CTBT) trong tháng 2 năm 2006 với tư cách là quốc gia thứ 34. Năm 2006 Tổng giám đốc Cơ quan nguyên tử quốc tế (IAEA) El Baradei đã sang thăm Việt Nam. Ngay sau đó Chính phủ Việt Nam đã công bố Việt Nam sẽ ký kết Nghị định thư bổ sung của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Để thỏa mãn nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng Việt Nam dự kiến sẽ xây dựng 8 nhà máy điện nguyên tử trong vòng 18 năm tới, đồng thời thỏa thuận đối thoại về các vấn đề an toàn hạt nhân với Hoa Kỳ. Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên dự kiến sẽ được đưa vào vận hành trong năm 2017.

 

 

Quan hệ với Áo

Quan hệ song phương Việt – Áo đã được nâng lên tầm cao mới sau chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 6 năm 2008), chuyến thăm của Bộ trưởng Kinh tế Bartenstein (tháng 3 năm 2008) và chuyến thăm của Quốc vụ khanh Kranzl (tháng 11 năm 2008) cũng như sau khi các văn kiện song phương được ký kết.

Bên lề chuyến thăm cấp nhà nước hai bên đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và Hiệp định công nhận văn bằng đại học, tạo điều kiện cho việc hợp tác trong lĩnh vực khoa học và trao đổi hàn lâm giữa hai nước. Dự kiến trong năm 2009 Lãnh sự quán danh dự của Áo sẽ được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Áo thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Dân chủ Việt Nam từ năm 1972 và với miền Nam Việt Nam từ năm 1962. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 phía Việt Nam đã đề nghị phía Áo tiếp tục duy trì mối quan hệ ngoại giao vốn có giữa nước Cộng hòa Áo và nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, 1.12.1972, cũng có thể được coi là ngày bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quan hệ chính trị song phương đến giữa thập niên 90 vẫn còn khá mờ nhạt. Chủ yếu chỉ diễn ra các chuyến thăm Hà Nội của một số chủ tịch người Áo của hội nghị quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia. Kể năm 1981, Áo đã tiếp nhận 2100 người tị nạn từ Đông Dương, trong đó đa phần là người Việt Nam. Bên cạnh đó, Áo cũng tham gia vào “Chương trình Ra đi có trật tự (ODP)” của Cao uỷ Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR). Từ năm 1980 đến khoảng cuối năm 1988, khoảng 850 người đã được đoàn tụ với thân nhân của mình tại Áo nhờ có chương trình này.

Quan hệ song phương giữa hai nước đã trở nên sâu sắc hơn sau các chuyến thăm và làm việc của Tổng thống liên bang Klestil (1995), Cựu Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Fischer (1997) và chuyến thăm Áo của Thủ tướng Phan Văn Khải (1998). Việc thành lập Đại sứ quán Áo vào giữa năm 1998 tại Việt Nam đã đáp ứng nguyện vọng mở rộng quan hệ hợp tác của giới doanh nghiệp Áo. Cũng trong năm này Phòng thương vụ trực thuộc Phòng Ngoại thương của Áo ở Bangkok được thành lập và sau đó đến tháng 10 năm 2001 văn phòng này được đặt tại Đại sứ quán Áo Hà Nội.

Quan hệ với Liên minh Châu Âu

Kể từ khi ký kết Hiệp định hợp tác năm 1995 Việt Nam và Liên minh Châu Âu có một mối quan hệ sâu sắc và bền vững. Liên minh Châu Âu là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam. Chuyến thăm của cao ủy đối ngoại EU Bà Benita Ferrero-Waldner (2006) và chuyến thăm của Chủ tịch Ủy ban Châu Âu José Manuel Barroso (2007) đã đưa quan hệ hai bên lên một tầm cao mới. Hiện tại hai bên đang tiến hành đàm phán hiệp định đối tác và hợp tác cũng như hiệp định thương mại tự do song phương.

EU hỗ trợ Việt Nam 40 triệu Euro hàng năm cho hai lĩnh vực trọng tâm là giáo dục phổ thông và y tế. Ngoài ra EU còn đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước láng giềng Châu Á (đặc biệt là Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc) luôn ở vị trí dẫn đầu.

EU đang nỗ lực tự do hóa thương mại và đầu tư tại Việt Nam mà trọng tâm là xóa bỏ rào cản thương mại và đầu tư (các quy định về công ty liên doanh, thủ tục cấp giấp phép rườm rà) cũng như cải thiện các điều kiện khung kinh tế (luật bảo hộ quyền tác giả). EU đã đặt ra nguyên tắc “thay đổi thông qua thương mại” trong quan hệ với Việt Nam. Thuế quan bảo hộ cho mặt hàng giày dép và may mặc được áp dụng từ năm 2006 là dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng của Việt Nam cũng dẫn đến các xung đột với EU, tương tự như trường hợp Trung Quốc.

Việt Nam được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Liên minh Châu Âu.Hai bên đã ký kết các hiệp định sau đây:

  • Hiệp định khung về hợp tác Việt Nam – Ủy ban Châu Âu 1995 (Hiệp định đối tác và hợp tác PCA được khởi động đàm phán từ năm 2007)
  • Hiệp định buôn bán hàng dệt may 1992, được sửa đổi trong tháng 2 năm 2003
  • Hiệp định về việc bãi bỏ hạn ngạch hàng dệt may vào Liên minh Châu Âu tháng 1 năm 2005.
  • Hiệp định mở rộng hợp tác kinh tế (tháng 10 năm 2004)
  • Hiệp định khung giữa Việt Nam và Ngân hàng đầu tư Châu Âu (EIB).